Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

Công nghệ sản xuất vải dệt thoi



Công nghệ sản xuất vải dệt thoi, Các phương pháp và máy móc dùng để sản xuất vải dệt thoi. Cùng chúng tôi tìm hiểu nhé !!!

1. Quy trình sản xuất vải dệt thoi 

Theo nguyên liệu: vải bông, vải len, vải tơ tằm, vải đay, vải lanh, vải tổng hợp, vải pha,...

Theo kiểu dệt: vải dệt thoi, dệt kim, vải không dệt; kiểu dệt cơ bản (vải phin, vải chéo, satin,...); các kiểu dệt biến đổi (vải basket, tổ ong,...); kiểu dệt liên hợp, phức tạp; các kiểu dệt hoa to (vải Jacquard),...

Theo công dụng: dùng trong may mặc, công nghiệp, vải trang trí, vải kỹ thuật, y tế, nông nghiệp, giao thông vận tải,...

Theo màu sắc: vải tẩy trắng, in hoa, nhuộm màu, vải kẻ,...

Theo khổ rộng: vải khổ rộng (≥ 140cm), khổ hẹp (< 140cm)

Theo khối lượng vải: vải nhẹ (<70g/m2 ); vải trung bình (≤200g/m2 ); vải nặng (>200g/m2 )

Mục đích: Quấn các búp sợi từ giá mắc thành thùng sợi dọc có đủ chiều dài, đủ số sợi, đủ chiều rộng vải, sức căng của các sợi đồng đều, các sợi không bị chéo,…

Có 2 phương pháp thực hiện là mắc sợi đồng loạt và mắc phân băng:

Mắc đồng loạt phù hợp cho mặt hàng dệt từ sợi chưa nhuộm hay mặt hàng dệt có sợi dọc một màu giống nhau.

Mắc phân băng phù hợp cho mặt hàng dệt từ sợi nhiều màu khác nhau.



Mắc sợi dọc đồng loạt 

Được thực hiện trên máy mắc đồng loạt, trong đó các sợi được cuốn song song trên trục mắc với mật độ, chiều rộng và chiều dài mắc theo thiết kế. Các trục mắc được ghép lại với nhau trên máy hồ sợi.

Mắc sợi dọc phân băng

Sợi được ghép lại với nhau thành băng và quấn lên trên một đoạn của trục guồng. Khi đủ chiều dài quy định thì cắt băng sợi và quấn tiếp vào một băng khác bên cạnh băng đó, cho đến khi tổng số sợi của các băng bằng số sợi dọc theo thiết kế. Tiếp theo sợi được cuốn từ guồng sang trục sợi.

Hồ sợi dọc

Sợi dọc trong khi dệt luôn chịu tác dụng các lực kéo, uốn cong, lực ma sát bề mặt,... hơn nữa các lực này lại luôn thay đổi (cả về hướng và cường độ) với tần số cao; mỗi điểm trên sợi dọc phải đi qua một chiều dài làm việc khoảng 1m và chịu tác động của các lực khoảng (2000 – 6000) chu kỳ tác động tuỳ thuộc mặt hàng và loại máy dệt. Vì vậy sợi dọc phải đạt được các tính chất về: độ bền, độ đàn hồi, độ giãn, độ mài mòn, sự liên kết các xơ sợi chặt chẽ và không bị bung ra (không bị xơ sợi, đứt sợi) trong quá trình dệt vải,...

Hồ sợi là làm ngấm sợi bằng dung dịch hồ sau đó sấy khô sợi để làm kết dính các xơ sợi lại với nhau.
+ Hồ sợi là một công đoạn phức tạp.

+ Thông thường chỉ hồ cho sợi đơn.

Các loại hoá chất trong đơn hồ:

- Tinh bột (bột sắn, ngô, mì, gạo,...), tinh bột biến tính.
- Các chất kết dính tổng hợp như PVA
- Các chất trợ khác: chất làm trơn, chất giữ ẩm, chất chống tĩnh điện, chất chống mốc,... Hiện nay chủ yếu sử dụng chất hồ tổng hợp đã pha chế sẵn. 15 Chuẩn bị sợi

Chuẩn bị sợi ngang

Quấn sợi từ búp sợi vào suốt sợi để làm sợi ngang trên máy dệt thoi. Ngày nay ít sử dụng.

Đặc điểm của máy dệt không thoi


Cơ cấu ba tăng đơn giản và nhẹ; hành trình chuyển động của ba tăng ngắn;

Khổ vải rộng

Kích thước miệng vải bé

Cơ cấu thay màu sợi ngang đơn giản, gọn

Không cần công đoạn chuẩn bị sợi ngang (đánh suốt)

Sức căng sợi ngang đều

Hoạt động ít ồn, rung

Tốc độ cao, năng suất cao

Nhược điểm của máy dệt không thoi 


Biên vải không chắc chắn và không đẹp

Tiêu tốn sợi ngang do dùng biên phụ, đầu thừa sợi ngang;

Một số loại sợi không sử dụng được (sợi kiểu) trên máy dệt không thoi


Máy dệt thoi kẹp


1952 máy dệt đầu tiên do Sulzer Ruti (Thụy Sỹ) trình diễn và đưa vào sản xuất

 Chất lượng vải tốt, hiệu quả kinh tế cao, tiêu thụ ít năng lượng

Sử dụng được tất cả các loại nguyên liệu: bông, len, mono-multifilament, ribbon, xơ cứng đay, lanh,...

Mặt hàng phong phú đa dạng, thời trang

Ưu điểm chính của máy dệt thoi kẹp 


Tiêu thụ ít năng lượng

Giảm tiêu hao sợi ngang (biên gấp)

Dễ vận hành, tiêu tốn ít phụ tùng, dễ bảo dưỡng, tuổi thọ chi tiết cao;

Dệt được nhiều loại khổ vải (33-530cm), nhiều khổ vải đồng thời (2-3 khổ) trên cùng một máy, một thời điểm

Độ đứt sợi dọc thấp do miệng vải rất nhỏ.

Thông tin Nhà tài trợ 

Công ty TNHH Đầu Tư Xuất Nhập Khẩu Nam Phát.  Chuyên sản xuất các loại chỉ may công nghiệp chỉ may bao bì giá rẻ 
 Số 8, Đường 31, Ấp Tân Bình, Xã Bình Minh, H Trảng Bom, Đồng Nai.
Office: A75/6B Bạch Đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp. HCM
MST: 3603629964
Hotline: 0933 99 2090 - Tel: 025 1629 3977 
Fax: 025 1629 3976 

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Vải dệt kim là gì?

Vải dệt kim single được sử dụng rộng rãi trong may mặc do năng suất lớn, điều kiện công nghệ đơn giản.


Vải dệt kim là gì? 


Vải dệt kim có các đặc tính như xốp, mềm mại, thoáng khí, co giãn tốt… nên rất thích hợp cho các loại quần áo thể thao. Bên cạnh đó, sợi cotton cũng được biết đến là loại sợi tự nhiên có khả năng hút ẩm tốt, giá thành hợp lý… phù hợp cho các loại quần áo mặc sát. Tuy nhiên vải dệt kim dệt từ sợi cotton thường nhanh bai giãn, dễ nhàu và mau cũ… Trong các loại vải dệt kim, vải single jersey là loại vải đan ngang cơ bản. Vải dệt trên các máy có một giường kim, năng suất lớn nên được sử dụng rộng rãi trong may mặc. Tuy nhiên vải single jersey thường có độ ổn định kích thước không cao, đặc biệt là khi vải được dệt từ sợi cotton hay có thành phần cotton cao. Để cải thiện nhược điểm này của vải, người ta thường sử dụng sợi cotton pha polyester đồng thời cài thêm sợi spandex vào cấu trúc vải. Các loại vải này hiện sử dung rộng rãi cho các loại quần legging nữ.

Ưu điểm của vải dệt kim 



Vải thường nhẹ và mềm mại, tuy nhiên tính ổn định kích thước thường không cao, đặc biệt khi vải được dệt từ sợi có thành phần cotton. Vải dệt kim có cài sợi chun sẽ được cải thiện về tính chất đàn hồi, phù hợp cho các loại sản phẩm quần legging nữ. Trong bài báo này, chúng tôi khảo sát các thông số công nghệ và các tính chất cơ lý của vải dệt kim single jersey có cài sợi spandex dựa trên tỷ lệ sợi spandex được cài vào cấu trúc vải. Bốn mẫu vải single jersey được dệt từ sợi CVC (40/60 Polyester/Cotton) ở cùng điều kiện công nghệ, với tỷ lệ các vòng sợi được cài sợi spandex lần lượt là 100, 50, 33 và 25%. Kết quả cho thấy, khi tỷ lệ sợi spandex trong vải tăng thì mật độ vòng sợi ngang và dọc, độ dày của vải, khối lượng g/m2 và độ giãn ngang của vải tăng lên trong khi độ thoáng khí của vải lại giảm đi.



Đã có một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố đến các tính chất cơ lý của vải dệt kim [6, 7, 8]. Anwarul Azim và cộng sự đã khảo sát hai loại vải: single jersey dệt hoàn toàn từ sợi cotton và vải single jersey dệt từ sợi cotton có cài sợi elastin cho tất cả các hàng vòng sợi [7]. Cả hai loại vải được dệt trên máy dệt kim tròn của hãng Mayer & Cie cấp máy tương ứng là 30 và 24. Sợi cotton được sử dụng có chi số Ne 30/1 và sợi cài elastane có chi số là 20 Denier. Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ ngang, mật độ dọc và mật độ diện tích, khối lượng g/m2 của vải có cài sợi elastane đều cao hơn so với vải chỉ dệt từ sợi cotton. Độ thoáng khí của vải có cài sợi elastane giảm rõ rệt so với, độ xiên hàng vòng và độ co ngang của vải sau giặt cũng ít hơn so với vải không có cài sợi elastane. Tuy nhiên, các tỷ lệ sợi chun khác nhau không được khảo sát, hơn nữa hai loại vải được dệt trên hai máy có cấp máy khác nhau nên là những hạn chế của nghiên cứu này

Swati Sahu và Alka Goel [8] đã nghiên cứu ảnh hưởng của chi số sợi cài spandex đến các tính chất của vải single jersey. Trong nghiên cứu này hai loại vải single jersey được dệt từ hai loại sợi bọc với sợi lõi là sợi spandex và sợi bọc là sợi lyocell với độ mảnh tương ứng là 20D/22dtex và 40D/44 dtex (spandex /lyocell). Kết quả nghiên cứu cho thấy khi độ mảnh sợi lõi elastane tăng lên thì độ dày của vải, khối lượng g/m2 , mật độ ngang và mật độ dọc của vải đều tăng lên. Tuy nhiên chưa thấy nghiên cứu nào báo cáo về ảnh hưởng của tỷ lệ sợi cài spandex lên các đặc tính của vải single jersey dệt từ sợi CVC 60/40 Polyesster/Cotton. Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát các tính chất của vải single jersey như mật độ vải, độ dày vải, khối lượng g/m2 , độ thoáng khí, độ giãn ngang của vải khi tỷ lệ các vòng sợi được cài sợi spandex thay đổi.

Cấu tạo vải dệt kim 

Bốn loại vải dệt kim single jersey được dệt từ sợi CVC (40% polyerter và 60% cotton), cùng dệt trên máy dệt kim tròn một giường kim Runshan (Đài Loan), cấp máy là 28, số tổ tạo vòng trên máy là 180. Sợi spandex (20D) được cài vào theo qui luật sau: CVC100: cài sợi spandex trên tất cả các hàng vòng, CVC50: cài sợi spandex cách hàng; CVC33: một hàng cài hai hàng không cài sợi spandex và CVC25: một hàng cài ba hàng không cài sợi spandex. Tất cả bốn loại vải sau đó được xử lý hoàn tất và nhuộm màu đen trong cùng điều kiện. Các mẫu vải được điều hòa theo tiêu chuẩn ISO 139 ít nhất 24h trước mỗi thử nghiệm. Mật độ ngang và mật độ dọc của vải dệt kim được xác định theo tiêu chuẩn TCVN 5794-1994. Khối lượng của vải được đo theo TCVN 4897-89. Độ dày của vải được đo theo tiêu chuẩn ISO 5084. Độ giãn ngang của các mẫu vải single jersey được xác định theo TCVN 5795 trên máy kéo đứt TENSILON (Nhật Bản). Năm mẫu vải được thực thử nghiệm. Kết quả đo được xuất dưới dạng file Excel sau đó được xử lý để xây dựng các đường cong tải trọng - độ giãn. Mười mẫu vải được chuẩn bị cho thử nghiệm đo độ thoáng khí theo tiêu chuẩn TCVN 5092-2009, giá trị trung bình cộng được xác định.

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NAM PHÁT
Factory: Số 8, Đường 31,Xã Bình Minh, H. Trảng Bom, Đồng Nai
Office: A75/6b/14 Bạch đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp. HCM
Hotline: 0911904968  -  Tel: 025 1629 3977  -  Fax: 025 1629 3976
Web: https://namphatplastic.com/vi/chi-may-bao  -  E: contact.namphat@gmail.com





Thứ Hai, 30 tháng 3, 2020

Ảnh hưởng của EVFTA khi có hiệu lực

EVFTA sẽ ảnh hưởng như thế nào đến ngành dệt may khi có hiệu lực cùng chúng tôi tìm hiểu thêm

1. Dự kiến tác động của các cam kết thuế quan đối với ngành dệt may Việt Nam

Ảnh hưởng của EVFTA với xuất khẩu


Nhóm sản phẩm dệt may được EU cam kết loại bỏ thuế ngay là các sản phẩm mà Việt Nam ít gia công (sản phẩm may mặc) hoặc xuất khẩu vào EU (ví dụ nguyên liệu dệt may).

Do đó Việt Nam sẽ ít được hưởng lợi từ nhóm cam kết này. Tuy nhiên, các doanh nghiệp hiện đang xuất khẩu xơ sợi nếu tìm kiếm được khách hàng EU sẽ được hưởng lợi từ các cam kết này (bởi mức thuế MFN mà EU đang áp dụng là khoảng 6-8%)

Nhóm sản phẩm EU cam kết loại bỏ thuế theo lộ trình bao gồm phần lớn các sản phẩm may mặc mà Việt Nam đang xuất khẩu sang EU:

Hiện tại, nhóm này đang được hưởng mức thuế ưu đãi trung bình là 9% theo Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP - ưu đãi mà EU đơn phương dành cho cho các sản phẩm chưa có năng lực cạnh tranh tốt từ các nước đang/kém phát triển nhất định theo các tiêu chí mà EU quyết định)

Sau khi EVFTA có hiệu lực, GSP sẽ tự động chấm dứt, các mức thuế nhập khẩu đối với hàng may mặc sẽ giảm dần đều xuống 0% tính từ mức MFN (khoảng 12%) theo lộ trình 3-7 năm.



Như vậy, trong một vài năm đầu thực hiện EVFTA, phần lớn các sản phẩm may mặc sẽ không được hưởng lợi từ EVFTA (do mức thuế giảm từ 12% vẫn sẽ cao hơn mức 9% theo GSP)

Tuy nhiên, trong lâu dài, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ hưởng lợi đáng kể từ EVFTA bởi

Các ưu đãi thuế quan theo EVFTA là ổn định (trong khi GSP thì biến động tùy vào quyết định mỗi năm của EU), không phụ thuộc vào tỷ trọng trong tổng nhập khẩu vào EU (không có “mức trưởng thành” như GSP) và giảm dần xuống 0%

Phần lớn các nước xuất khẩu dệt may vào EU hiện nay đều chưa có FTA với EU

Trong bối cảnh cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc vào EU đang ngày càng gay gắt, EVFTA mở ra cơ hội rất lớn cho xuất khẩu dệt may Việt Nam, với điều kiện doanh nghiệp có thể đáp ứng được các yêu cầu về xuất xứ (xem ở Câu trên)

Ảnh hưởng của EVFTA Về nhập khẩu


Việt Nam ít nhập khẩu các sản phẩm dệt may từ EU (trừ một số dòng sản phẩm cao cấp), vì vậy cơ bản các cam kết loại bỏ thuế đối với sản phẩm này sẽ ít có tác động tới cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nội địa.

Trong tổng thể, các doanh nghiệp dệt may có thể được hưởng lợi từ cam kết mở cửa của Việt Nam trong EVFTA đối với lĩnh vực dệt may:

Với các cam kết loại bỏ thuế nhập khẩu ngay đối với các nguyên phụ liệu từ EU, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội nhập khẩu các nguyên liệu dệt may (đặc biệt là các chất liệu mới mà EU có thể có thế mạnh)

Với các cam kết loại bỏ thuế nhập khẩu ngay đối với các loại máy móc, thiết bị ngành may từ EU, doanh nghiệp sẽ có cơ hội nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị từ EU (đặc biệt là các loại sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới) với giá hợp lý, tạo cơ hội phát triển sản xuất, đặc biệt theo hướng hàng chất lượng cao.


CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NAM PHÁT
Factory: Số 8, Đường 31,Xã Bình Minh, H. Trảng Bom, Đồng Nai
Office: A75/6b/14 Bạch đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp. HCM
Hotline: 0911904968  -  Tel: 025 1629 3977  -  Fax: 025 1629 3976
Web: https://namphatplastic.com/vi/chi-may-bao  -  E: contact.namphat@gmail.com

Cam kết EVFTA về quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may?

Chương 4 EVFTA quy định về các điều kiện quy tắc xuấtxứ mà hàng hóa dệt may phải tuân thủ để được hưởng ưu đãi thuế qua


Đối với sản phẩm dệt may, ngoài các quy tắc xuất xứ chung (tương tự như với tất cả các hàng hóa khác) thì còn có quy tắc riêng cho nhóm sản phẩm này (áp dụng cho trường hợp sản phẩm sử dụng một phần nguyên liệu không xuất xứ)

Quy tắc xuất xứ phổ biến đối với sản phẩm dệt may trong EVFTA là tiêu chí hai công đoạn, hay còn gọi là “từ vải trở đi”

Cụ thể, để sản phẩm may mặc được coi là có xuất xứ theo EVFTA thì:

Vải sử dụng để tạo thành sản phẩm phải có xuất xứ Việt Nam/EU và

Việc cắt, may phải được thực hiện tại Việt Nam/EU

Tuy nhiên, EVFTA có cam kết linh hoạt về quy tắc xuất xứ cộng gộp

Cho phép vải có xuất xứ Hàn Quốc được coi như có xuất xứ theo EVFTA (Hàn Quốc là nước duy nhất hiện có cả FTA với Việt Nam và EU).

Trong tương lai, nếu có một nước nào đó cùng có FTA với VN và EU thì Việt Nam sẽ thông báo cho Ủy ban Hải quan của EVFTA và Ủy ban này sẽ quyết định việc có cho phép cộng gộp không.

Nhìn chung, quy tắc xuất xứ trong EVFTA đối với dệt may lỏng hơn quy tắc “từ sợi trở đi” trong TPP nhưng vẫn được xem là rất khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam bởi:

Phần lớn các doanh nghiệp mới chỉ đang thực hiện công đoạn cắt - may

Vải nguyên liệu sử dụng để sản xuất chủ yếu được nhập khẩu từ các khu vực chưa có FTA với EU (Trung Quốc, Đài Loan).

Như vậy, để tận dụng các ưu đãi thuế quan trong EVFTA về dệt may, Việt Nam cần: 


Chú trọng phát triển ngành công nghiệp dệt và công nghiệp phụ trợ dệt may để đáp ứng được yêu cầu chặt về quy tắc xuất xứ trong EVFTA

Tận dụng ngoại lệ về vải xuất xứ Hàn Quốc

Cam kết về hàng rào kỹ thuật (TBT) đối với sản phẩm dệt may trong EVFTA? 


EVFTA chủ yếu bao gồm các cam kết chung hợp tác, minh bạch hóa trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật (TBT); không có cam kết nào cụ thể liên quan tới các biện pháp TBT có thể ảnh hưởng tới dệt may ngoại trừ:

Các cam kết về ghi nhãn hàng hóa

Hợp tác trong việc công nhận các quy trình đánh giá sự phù hợp của mỗi Bên

Hậu kiểm

Đối với Việt Nam: cam kết chấp nhận xuất xứ hàng hóa ghi chung “Made in EU” hoặc ghi rõ xuất xứ từng nước trong EU đối với hàng hóa công nghiệp (trong đó có dệt may)

Như vậy, về cơ bản, khi EVFTA có hiệu lực, EU và Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục chủ động trong việc áp dụng các biện pháp TBT đối với hàng nhập khẩu như hiện tại. Doanh nghiệp xuất khẩu vẫn sẽ phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của bên nhập khẩu như trước đây

Nhóm yêu cầu về hóa chất trong thành phần sản phẩm (các loại vải, sợi, quần áo và các phụ kiện dệt may đều có chứa nhiều loại hóa chất khác nhau như thuốc nhuộm, thuốc tẩy…) Nhóm yêu cầu về quy trình sản xuất (xử lí nguyên liệu và các chất thải độc hại sinh ra từ quá trình trồng nguyên liệu, sản xuất vải, chế biến vải hoàn thiện, các quá trình dệt, nhuộm, in ấn…) Nhóm yêu cầu về quy cách đóng gói, bảo quản, ghi nhãn sản phẩm

Xem thêm bài viết Triển vọng xuất khẩu của thị trường dệt may 

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NAM PHÁT
Factory: Số 8, Đường 31,Xã Bình Minh, H. Trảng Bom, Đồng Nai
Office: A75/6b/14 Bạch đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp. HCM
Hotline: 0911904968  -  Tel: 025 1629 3977  -  Fax: 025 1629 3976
Web: https://namphatplastic.com/vi/chi-may-bao  -  E: contact.namphat@gmail.com




Triển vọng xuất khẩu của thị trường dệt may

Cùng chúng tôi nghiên cứu về triển vọng xuất khẩu của thị trường dệt may trong những năm tới

1. Các yếu tố tích cực về triển vọng xuất khẩu của thị trường dệt may Việt Nam


Việt Nam hiện mới chỉ chiếm một phần nhỏ (khoảng 5-6%) trong tổng giá trị dệt may thế giới (400 tỷ/ năm), do đó có dư địa để gia tăng thị phần

Việt Nam đã và đang ký kết các thỏa thuận thương mại tự do (FTA) với các thị trường có tiềm năng lớn về dệt may (đặc biệt là các thị trường EU, Hoa Kỳ, Nga…), vì vậy có cơ hội cạnh tranh lớn về giá so với nhiều nước xuất khẩu chưa có FTA

Các bất cập có thể ảnh hưởng tới triển vọng thị trường của dệt may Việt Nam:

Nhu cầu thế giới biến động (đặc biệt ở một số thị trường lớn như EU, Nhật Bản…)

Các thay đổi trong nhu cầu, thị hiếu khách hàng (sử dụng chất liệu thân thiện môi trường như spandex, bamboo, cotton..) khiến số lượng các đơn hàng dè dặt

Chính sách cạnh tranh của một số nước xuất khẩu dệt may khác (phá giá đồng nội tệ để tạo lợi thế cho giá xuất khẩu, trợ cấp và các chính sách khác giúp giảm chi phí đầu vào…)

2. Thuận lợi từ Cam kết EVFTA về thuế 4 quan đối với dệt may

Trong EVFTA, EU cam kết dành ưu đãi thuế nhập khẩu cho hàng dệt may Việt Nam như sau:

Loại bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực cho các loại nguyên phụ liệu dệt may (thuộc các Chương 50-50 Biểu thuế); và chỉ một số ít loại trong các nhóm sản phẩm may mặc thuộc Chương 61-62 Biểu thuế (như bộ đồ vest hoàn chỉnh, đồ ngủ nữ, áo len trẻ em, đồ bơi, chăn, rèm cửa, túi xách hoặc túi đựng bằng vải…)

Loại bỏ thuế nhập khẩu dần từ mức thuế MFN trung bình là 12% hiện nay xuống 0% trong thời hạn từ 3 đến 7 năm kể từ ngày EVFTA có hiệu lực đối với phần lớn các sản phẩm may mặc và sản phẩm tương tự thuộc các Chương 61, 62 Biểu thuế.


Về phía Việt Nam, mức cam kết thuế quan dành cho sản phẩm dệt may từ EU nhập khẩu cũng gần tương tự

37% số dòng thuế sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực (cũng phần lớn là các nguyên phụ liệu dệt may và một số ít các sản phẩm may mặc mà Việt Nam ít sản xuất)

Số còn lại sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình từ 3 đến 7 năm

Xem thêm bài viết xu thế phát triển và dịch chuyển ngành dệt may của việt nam 

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NAM PHÁT
Factory: Số 8, Đường 31,Xã Bình Minh, H. Trảng Bom, Đồng Nai
Office: A75/6b/14 Bạch đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp. HCM
Hotline: 0911904968  -  Tel: 025 1629 3977  -  Fax: 025 1629 3976
Web: https://namphatplastic.com/vi/chi-may-bao  -  E: contact.namphat@gmail.com

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

Hành vi sử dụng trang phục công sở của người dân việt nam

Cùng chúng tôi xem xét về hành vi sử dụng trang phục công sở của người dân việt nam

I. Nghiên cứu Hành vi sử dụng trang phục công sở của người dân việt nam 


1. Loại trang phục ưu tiên: 


Với đối tượng tham gia khảo sát là nhân viên công sở trong độ tuổi từ 23 – 29 thì Trang phục công sở được ưu tiên nhất trong tất cả các loại trang phục, chiếm 65.0%. Trong đó, Nữ giới có mức độ quan tâm vào loại trang phục này cao hơn Nam giới.


2. Người quyết định chính: 


55.4% trong tổng số 720 người tham gia khảo sát bị ảnh hưởng bởi sự tư vấn của người khác khi mua sắm trang phục công sở cho bản thân. Trong đó, tỷ lệ Nam giới mua đồ công sở theo lời khuyên của người khác cao hơn nữ giới.

3. Mức độ mua sắm: 


bình quân từ 1 – 2 lần / 1 tháng.

4. Địa điểm mua sắm: 


Cửa hàng quần áo thời trang và Cửa hàng chuyên bán trang phục công sở là 2 địa điểm khách hàng thường xuyên mua sắm trang phục công sở nhất. Khi xét về khu vực nghiên cứu thì nhóm đáp viên Hà Nội có thói quen mua sắm ở các Cửa hàng chuyên bán thời trang công sở, thì ở Hồ Chí Minh lại thường xuyên mua sắm tại các Cửa hàng quần áo thời trang khác.


5. Dịp mua sắm: 


Sau khi nhận lương hoặc những lúc có nhiều tiền là thời điểm mà nhiều người muốn mua sắm trang phục công sở nhất. Ngoài ra, khi muốn Thay thế cho những trang phục cũ cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy nhu cầu chi tiêu của khách hàng.


6. Người mua sắm cùng: 


Hai đối tượng chủ yếu mà đáp viên thường đi cùng là Chồng/vợ (35.4%) và Bạn bè/Đồng nghiệp (28.9%). Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa Nam và Nữ cũng như giữa các nhóm tuổi:
• Trong khi Nam giới có khuynh hướng đi mua sắm trang phục công sở cùng với Vợ thì Nữ giới lại thường đi mua trang phục với Bạn bè / đồng nghiệp.
 • Nhóm 23 – 29 thường đi mua sắm cùng với Bạn bè / đồng nghiệp trong khi nhóm 30 – 39 thường đi mua cùng với với Chồng / Vợ của mình.


7. Loại trang phục và Phong cách yêu thích:


 Nam giới và Nữ giới đều yêu thích trang phục áo sơ mi và quần tây với phong cách lịch sự, trẻ trung và năng động. Tuy nhiên, có vài điểm khác nhau nhỏ giữa hai nhóm này: • Nam giới: yêu thích phong cách Đơn giản, dễ nhìn (51.4%) • Nữ giới: ngoài hai loại trang phục trên, nhóm đáp viên nữ cũng khá ưa chuộng chân váy và đầm liền cùng phong cách dịu dàng, nữ tính


8. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm


 Các yếu tố liên quan đến trang phục (kiểu dáng, thiết kế, chất liệu vải, màu sắc…), giá cả, hợp thời trang, địa điểm bán là các nhân tố ảnh hưởng chính đến quyết định của người tiêu dùng. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này có hơi khác giữa hai nhóm nam và nữ cũng như các nhóm độ tuổi:
a. Giới tính:

 Trong khi Nam giới chú trọng nhiều đến kiểu dáng, thiết kế, chất liệu vải, màu sắc,… của trang phục, thì Nữ giới lại quan tâm nhiều hơn xem bộ trang phục đó có hợp mốt hoặc có chương trình giảm giá khuyến mãi hay không.

b. Độ tuổi:

Nhóm thành viên lớn tuổi (30 – 39 tuổi) chú ý nhiều về giá cả của trang phục hơn so với nhóm trẻ (20 – 29 tuổi

II.  Hành vi và thói quen của từng nhóm tiêu dùng thời trang công sở

Áp dụng phương pháp phân tích cụm (Cluster Analysis), nhóm tiêu dùng thời trang chia thành 2 nhóm chính sau : 
• Nhóm 1: Quan tâm và chạy theo xu hướng (56.0%)

 • Nhóm 2: Chỉ mua sắm khi cần thiết (44.0%). I. Đặc trưng của từng nhóm • Nhóm 1 tập trung nhiều ở nữ giới và ở độ tuổi 23 -29 tuổi.

 • Nhóm 2 chủ yếu là nam giới và trong độ tuổi từ 30 – 39 tuổi. III. Những điểm chung của 2 nhóm • Tự bản thân quyết định việc chọn lựa trang phục. • Đều đến Cửa hàng quần áo thời trang để mua sắm trang phục công sở. 

• Thời điểm thường đi mua sắm là Sau khi nhận lương hoặc lúc có nhiều tiền. 

• Vợ / chồng và Bạn bè / Đồng nghiệp là hai đối tượng chủ yếu đi cùng. 

• Quyết định chọn trang phục đều bị chi phối bởi các yếu tố liên quan đến trang phục (kiểu dáng, chất liệu vải, màu sắc,…), giá cả, hợp thời trang và địa điểm bán.


 Những điểm khác biệt giữa 2 nhóm 


a. Chương trình khuyến mãi: 

Nhóm 2 quan tâm đến các chương trình khuyến mãi cao hơn nhóm 1. Vì vậy mà tỷ lệ họ mua sắm tại các dịp có chương trình giảm giá / khuyến mãi cũng cao hơn.

 b. Địa điểm mua sắm: 

Nhóm 2 có xu hướng Tự đặt may và mua trang phục công sở ở Chợ. Ngược lại thì nhóm 1 mua sắm tại Trung tâm thương mại chiếm tỷ lệ cao hơn. 

c. Yếu tố ảnh hưởng: 

Nhóm 2 chú trọng hơn hẳn việc mua sắm trang phục công sở so với nhóm 1. Vì vậy mà số điểm họ đánh giá mức độ quan trọng cho các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm cũng cao hơn.

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NAM PHÁT
Factory: Số 8, Đường 31,Xã Bình Minh, H. Trảng Bom, Đồng Nai
Office: A75/6b/14 Bạch đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp. HCM
Hotline: 0911904968  -  Tel: 025 1629 3977  -  Fax: 025 1629 3976
Web: https://namphatplastic.com/vi/chi-may-bao  -  E: contact.namphat@gmail.com




Xu thế phát triển và dịch chuyển của ngành Dệt - May

Xu thế phát triển và dịch chuyển của ngành Dệt - May Đối với Việt Nam


Trong mấy năm qua, ngành Dệt - May Việt Nam đã có bước phát triển khá mạnh mẽ,
thu hút được nhiều lao động, đang là ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong toàn
ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Liên tục từ năm
1992 đến nay kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt - May liên tục tăng với tốc độ cao và
luôn là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Đặc biệt là từ năm 1994
đến nay, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt - May luôn đứng thứ 2 về giá trị, chỉ sau
dầu thô. Cho đến nay, ngành Dệt - May đã đạt được thành công đáng kể. Tăng trưởng
xuất khẩu ở mức thấp đã tăng nhanh từ 140,4 triệu USD năm 1989 lên 1350 triệu USD

năm 1998 và1892 triệu USD năm 2000. Hiện nay, tạo khoảng 13,5% tổng kim ngạch
xuất khẩu, chiếm khoảng 41% kim ngạch xuất khẩu của công nghiệp chế tác


 Hiệp hội dệt may việt nam đã có thời gian phát triển mạnh, thu hút được nhiều lao động xã hội
- khoảng từ 50 vạn công nhân, chiếm khoảng22,7% lao động công nghiệp toàn quốc
(trong đó 80% là lao động nữ) giải quyết được công ăn việc làm, tạo sự ổn định kinh tế,
chính trị, xã hội do đó được Đảng và Nhà nước quan tâm. Ngành Dệt - May vẫn đang
chiếm một vị trí quan trọng về nhu cầu ăn mặc của nhân dân, an ninh quốc phòng và tiêu
dùng trong công nghiệp khác. Nhờ vậy mà trong thời qua, ngành đã có bước phát triển
và giữ một vai trò quan trọng trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng



Trong thời kỳ đổi mới, ngành Dệt - May sẽ tiếp tục đóng vị trí quan trọng trong nền kinh
tế nước ta, tận dụng lợi thế về lao động để tham gia vào thương mại quốc tế và sẽ tiếp
tục là một trong những ngành có đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu của đất nước


Xu thế phát triển và dịch chuyển của ngành Dệt - May Đối với thế giới 

Ngành công nghiệp Dệt - May gắn liền với nhu cầu không thể thiếu được của mỗi con
người. Vì vậy, từ rất lâu trên thế giới, ngành công nghiệp này đã được hình thành và đi
lên cùng với sự phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản. Bên cạnh đó, công nghiệp Dệt
- May là ngành thu hút nhiều lao động với kĩ năng trung bình và có điều kiện mở rộng
thương mại quốc tế; vốn đầu tư cho một cơ sở sản xuất không lớn như các ngành công
nghiệp khác... Do vậy trong quá trình công nghiệp hoá tư bản, từ rất sớm các nước Anh,
Pháp, Ý... cho đến các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore..,
ngành Dệt - May đều có vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá của họ. Vào
năm 1994, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt

 - May thế giới đạt 250 tỉ USD. Theo dự báo của GATT (nay là tổ chức thương mại thế giới - WTO) trong 10 năm tới kim ngạch
xuất khẩu sẽ tăng 60% đối với hàng may mặc và 34% đối với hàng Dệt, trong đó Châu
Á chiếm khoảng 40% giá trị xuất khẩu mặt hàng này. Ngành Dệt - May đã và đang đóng
vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát
triển. Song, hiện nay tiền công lao động của công nhân Dệt - May ở các nước phát triển
và các nước công nghiệp mới cao hơn trước rất nhiều, hơn nữa họ đã và đang thiếu lao
động. Do vậy, hiệu quả sản xuất Dệt - May tại các nước đó đã giảm nhiều nên các nước
này đã và đang chuyển ngành công nghiệp Dệt - May sang các nước đang phát triển.
Đây là xu thế chuyển dịch trong xu thế chuyển dịch chung của các ngành kinh tế từ các
nước phát triển sang các nước đang phát triển.
 


 Xu thế phát triển và chuyển dịch của ngành Dệt - May trong khu vực


Trên thế giới hiện nay, nhu cầu về hàng Dệt - May ngày một cao theo nhịp độ phát triển
của nền kinh tế quốc dân và mức độ cải thiện đời sống của mỗi nước. Nhu cầu đảm bảo
về kĩ thuật và mỹ thuật nhằm đáp ứng được thị hiếu thẩm mỹ của từng dân tộc, từng
quốc gia. Do hợp tác và phân công lao động quốc tế ngày càng được mở rộng nên những
 
quốc gia có kĩ thuật hiện đại, vốn tích luỹ ngày càng hướng vào công nghiệp chế biến
nguyên liệu và kéo sợi hoặc tự động hoá các khâu Dệt vải (Mỹ, Anh, Pháp, Đức...). Vì
các nước này có nền kinh tế đã phát triển, giá nhân công ngày càng tăng nên giá thành
hàng may mặc bị đẩy lên, làm cho nó mất sức cạnh tranh. Do đó, ngành may ở các nước
đó được chuyển dần sang các nước đang phát triển có lực lượng lao động dồi dào, giá
rẻ


Ở khu vực Đông Nam Á, quá trình chuyển ngành Dệt - May nói riêng, các ngành công
nghiệp nói chung, được biết đến dưới tên gọi "hiệu ứng chảy tràn" hay còn gọi là "làn
sóng cơ cấu".
Đầu tiên là Nhật Bản thực thi tiến trình công nghiệp hoá bằng việc phát triển theo một
trật tự tương đối tuần tự, một số ngành được coi là chủ đạo trong những thời kỳ nhất
định. Trước chiến tranh thế giới thế hai, các ngành đó xếp theo trật tự tương đối về thời
gian là: sản phẩm sợi - Dệt tơ và bông, luyện kim, hoá chất và một số ngành chế tạo. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, từ đống đổ nát do chiến tranh để lại. Nhật Bản bắt đầu khôi
phục và tiếp tục phát triển các ngành sợi Dệt. Trong những năm đầu sau chiến tranh,
ngành sợi dệt vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nhật Bản.


Như vậy, trong giai đoạn đầu phát triển, Nhật Bản cũng lấy việc khai thác lợi thế lao
động để làm phát triển ngành sợi dệt nhằm tạo cơ sở ban đầu cho thực hiện công nghiệp
hoá. Trong giai đoạn đầu, ngành Dệt sợi là ngành chiếm tỉ lệ cao nhất trong xuất khẩu
của Nhật Bản.


Ngành Dệt sợi là ngành chiếm ưu thế trong cả cơ cấu sản xuất cũng như trong cơ cấu
xuất khẩu cho đến trước chiến tranh thế giới lần thứ II. Ưu thế của một ngành công
nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động và có kĩ thuật - công nghệ không cao tạo ra lợi thế
cạnh tranh cho toàn bộ quá trình công nghiệp hoá diễn ra nhanh chóng. Nhật Bản đã tận
dụng tối đa ưu thế lao động đông nhưng ít kĩ năng để phát triển hệ ngành đáp ứng tốt
nhất yêu cầu của bước quá độ về lao động, thế giới, vốn và kĩ thuật trong bước chuyển
sang một giai đoạn phát triển mới. Sau những thập kỉ 60 và 70, cơ cấu kinh tế của Nhật
Bản đã thay đổi mạnh mẽ. Mặc dù ngành Dệt


 - May vẫn còn chiếm tỉ trọng khá lớn trongxuất khẩu cho đến năm 1965 nhưng tỉ trọng của nó trong cơ cấu chung đã giảm nhanh,để nhường lại cho những ngành công nghiệp điện tử, chế tạo máy... Nhật Bản đã tiến hành di chuyển ngành Dệt 
- May sang các nước khác. Các nước NICs Châu Á là nhữnnước đầu tiên được tiếp nhận sự dịch chuyển này của Nhật Bản - Một trong những nướcĐông Á được tiếp nhận luồng di chuyển này và điều này lý giải việc ngành Dệt - May chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu công nghiệp của Hàn Quốc nhưng ngành này đã bắt đầu giảm sút về tỉ trọng. Đài Loan cũng có một bước đi tương tự mà trong đó, hàng Dệt và quần áo may sẵn là những mặt hàng giữ vị trí quan trọng trong xuất khẩu của Đài Loan trong những năm đầu công nghiệp hoá.

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU NAM PHÁT
Factory: Số 8, Đường 31,Xã Bình Minh, H. Trảng Bom, Đồng Nai
Office: A75/6b/14 Bạch đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp. HCM
Hotline: 0911904968  -  Tel: 025 1629 3977  -  Fax: 025 1629 3976
Web: https://namphatplastic.com/vi/chi-may-bao  -  E: contact.namphat@gmail.com



Sợi cuốn rơm

  Rơm rạ được coi là một nguyên liệu quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Bởi vậy mà trong quá trình thu hoạch rơm rạ, người nông dân sẽ cần sử ...